Xin kính chào quý độc giả có rất nhiều người đã từng thắc mắc một điều rằng sinh trắc vân tay là gì? lịch sử sinh trắc vân tay phát triển như thế nào? Đây có phải là hình thức bói toán hay không? Làm sinh trắc giúp gì cho tôi và gia đình của mình. Tôi xin chia sẻ những kiến thức mà Tôi biết được để mọi người cùng đọc và cảm nhận về ý nghĩa của sinh trắc vân tay.Đó là bộ môn khoa học được các nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ,chuyên gia, nghiên cứu.Các nhà bác học cho rằng dấu vân tay được hình thành bởi hệ thống gen di truyền mà mỗi chúng ta được thừa hưởng từ bố mẹ và tác động của môi trường. Điều thú vị là mặc dù có chung một hệ thống gen di truyền nhưng vân tay trên mười đầu ngón tay của mỗi  người đều khác nhau.






* Năm 1684:Tiến sĩ Nehemiah Grew (1641-1712) giới thiệu những nghiên cứu đầu tiên về dấu vân tay đến Hội Hoàng gia.




* Năm 1685: Tiến sĩ Bidloo công bố tấm bản đồ giải phẫu, minh họa các chỉ số vân tay của con người có liên quan đến thái độ sống.




* Năm 1686: Tiến sĩ Marcello Malpighi đưa ra luận thuyết về các loại vân tay: xoắn, móc, vòm (Whorl, Loop, Arch) trong dấu vân tay.




* Năm 1788: J.C.Mayer là người đầu tiên đưa ra thuyết cơ bản về phân tích vân tay và giả thuyết rằng dấu vân tay là duy nhất.




* Năm 1823: Tiến sĩ Jan Purkinje đã phân loại những chủng trên các vân tay thành 9 loại: arch, tented arch, ulnar loop, radial loop, peacock’s eye/compound, spiral whorl, elliptical whorl, circular whorl, và double loop/composite.




* Năm 1832: Tiến sĩ Charles Bell là một trong những bác sĩ đầu tiên kết hợp khoa học nghiên cứu giải phẫu thần kinh với thực hành lâm sàng. Ông đã xuất bản cuốn”The Hand: Its Mechanism and Vital Endowments as Evincing Design”.




* Năm 1823: Johannes Evangelista Purkinje tìm thấy các mô hình và hình dạng của ngón tay bắt đầu hình thành ở khoảng tuần thứ 13 của thai nhi trong bụng mẹ.




* Năm 1880: Henry Faulds ông đưa ra lý luận về số lượng vân tay RC (Ridge Count) để đánh giá mức độ phụ thuộc của vân tay vào gen di truyền.




* Năm 1868: nhà bác học Roberts chỉ ra rằng mỗi ngón tay vi mô phát triển khác nhau. Hai anh em (chị em) song sinh cùng trứng có dấu vân tay khá là giống nhau nhưng vẫn có thể phân biệt được rõ dấu vân tay của từng người. Dù có cùng hệ thống gen di truyền và chung môi trường phát triển trong bụng mẹ nhưng do họ có vị trí khác nhau trong dạ con nên môi trường vi mô của họ khác nhau và do đó có dấu vân tay khác nhau.




* Năm 1892: Francis Galton là người đầu tiên phát hiện vai trò của vân tay trên lĩnh vực di truyền và sự khác biệt vân tay ở những chủng tộc khác nhau.




* Năm 1893: Francis Galton ông là người đầu tiên phát hiện vai trò của vân tay trên lĩnh vực di truyền và sự khác biệt vân tay ở những chủng tộc khác nhau. Ông đã đơn giản hoá việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại lớn: Vân sóng (không có tam giác điểm), vân móc (có 1 tam giác điểm), vân xoáy (có 2 tam giác điểm).




* Năm 1897: Harris Hawthorne Wilder là người Mỹ đầu tiên học về Dermatoglyphics. Ông đã phát minh ra chỉ số Main Line, nghiên cứu thenar hypothenar eminence, khu II, III, IV.




* Năm 1926: Tiến sĩ Harold Cummins được xem là cha đẻ của ngành nghiên cứu khoa học dấu vân tay ông đưa ra lý luận chỉ số cường độ vân tay PI (Pattern Intensity).Giá trị RC số lượng tam giác điểm, hình dạng vân tay, vị trí hình dạng vân tay ở những ngón tay khác nhau có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của con người. Ông nghiên cứu ra rằng dấu vân tay được hình thành đồng thời với sự hoàn thiện các cấu trúc của não bộ. Dấu vân tay được hình thành ở thai nhi vào giai đoạn từ 13 đến 19 tuần tuổi. Vào giai đoạn trước đó, thai nhi không có dấu vân tay đồng thời não bộ cũng đang ở trong giai đoạn hình thành. Khi thai nhi được 19 tuần tuổi là lúc các vùng chính của não hình thành bao gồm cả vỏ đại não.




* Năm 1930: Hiệp hội SSPP là Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP: Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.




Năm 1944: Tiến sĩ tâm lý phân tích Julius Spier Chirologist xuất bản cuốn sách “Bàn tay của trẻ em”. Ông đã khám phá một số điểm đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển tâm sinh lý, chẩn đoán sự mất cân bằng và các vấn đề trong khu vực này từ các mô hình của bàn tay.




* Năm 1957: Tiến sĩ Walker sử dụng các cấu hình da trong chẩn đoán hội chứng Down.




* Năm 1958: Noel Jaquin (1893-1974) đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân tay sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách.




* Năm 1968: Beryl Hutchinson (1891-1981) nghiên cứu sinh lý học phát hiện ra rằng Dermatologlyphics có thể chỉ ra tiềm năng bẩm sinh của một người.




* Năm 1968: nhà bác học Holt đã chứng minh được rằng có thể đưa ra tương đối chính xác tổng số lượng vân tay TRC (Total Ridge Count) và mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người. Vì vậy có thể coi TRC là một biểu hiện phụ trợ của hệ thống gen mà con người được thừa kế. TRC phản ánh gần đúng sự đóng góp của từng gen riêng biệt trong hệ thống gen vào việc hình thành một con người cụ thể.




* Năm 1969: John J. Mulvihill, MD và David W. Smith, MD xuất bản cuốn “Thiên tài qua vân tay”, cung cấp phiên bản mới nhất về sự hình thành của vân tay. * Năm 1970: Liên Xô thực hiện công trình nghiên cứu về tiềm năng con người, mối liên quan giữa tài năng, trí thông minh với sinh trắc vân tay và hệ gen của con người. Và sử dụng Sinh trắc vân tay trong việc lựa chọn thí sinh cho thế vận hội Olympic.




* Năm 1970: Beverly C. Jaegers cho thấy dấu vân tay có liên quan đến đặc trưng tâm lý của mỗi người.




* Năm 1976: Schaumann và Alter nghiên cứu các chỉ số trên vân tay của những người bệnh tim bẩm sinh, ung thư, bệnh bạch cầu, bệnh tâm thần phân liệt… nghiên cứu được hướng vào nghiên cứu di truyền và chẩn đoán của các khuyết tật nhiễm sắc thể




* Năm 1980: Trung Quốc thực hiện công trình nghiên cứu tiềm năng con người, trí thông minh và tài năng trong vân tay và gen của con người.




* Năm 1981: Giáo sư Roger W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh học vì những nghiên cứu về chức năng của não trái và não phải cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây, những nghiên cứu về não bộ không ngừng phát triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.




* Năm 1985: Tiến sĩ Chen Yi Mou – Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trên lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.




* Năm 1986: Giải Nobel về sinh lý học đã được trao cho tiến sĩ Rita Levi-Montalcini và tiến sĩ Stanley Cohen cho phát hiện mối tương quan giữa NGF (yếu tố tăng trưởng tế bào thần kinh não bộ) và EGF (yếu tố tăng trưởng tế bào biểu bì hình thành vân tay).




* Năm 2004: Trung tâm IBMBS (Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay. Ngày nay, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan áp dụng Sinh trắc vân tay đến các lĩnh vực giáo dục, hy vọng sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập bằng cách xác định các phong cách học tập khác nhau.Các nhà nghiên cứu khẳng định độ chính xác của Sinh trắc vân tay rất cao, đó là khả năng dự báo từ các tính năng của tay…




* Năm 2010: ADRC – Asian Dermatoglyphics Research Centre – Trung tâm Sinh trắc học dấu vân tay Châu Á được thành lập với mục đích dùng hệ thống máy vi tính hỗ trợ cho công nghệ thống kê, nghiên cứu chuyên sâu về vân tay. Với những thông tin mà Tôi đã chia sẻ để quý độc giả biết được giá trị và những nghiên cứu của các nhà khoa học đã nghiên cứu và để lại cho thế hệ con cháu những mầm mống tương lai của gia đình và xã hội. Chúc các bạn tìm ra sứ mệnh mà chúng ta được sinh ra.




HÃY LIÊN HỆ ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN NHÉ.
Hotline: 0977311277

Email: thuannguyen26@gmail.com

https://www.facebook.com/nguyen.thuan.965/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Developed by Tiepthitute
Facebook Messenger
Chat với chúng tôi qua Zalo
Gọi ngay